Bệnh hại trên cà phê

Không như các cây công nghiệp khác, bệnh hại trên cà phê ít nghiêm trọng hơn, nên người trồng cà phê ít phải phun thuốc phòng trừ bệnh hại hơn. Ngoài ra, bệnh hại trên cà phê chè Arabica nghiêm trọng hơn trên cà phê vối Robusta. 1 1. Bệnh gỉ sắt (Hemileia vastatrix)1.1 Biện […]

Không như các cây công nghiệp khác, bệnh hại trên cà phê ít nghiêm trọng hơn, nên người trồng cà phê ít phải phun thuốc phòng trừ bệnh hại hơn. Ngoài ra, bệnh hại trên cà phê chè Arabica nghiêm trọng hơn trên cà phê vối Robusta.

1. Bệnh gỉ sắt (Hemileia vastatrix)

.

bệnh gỉ sắt (mặt dưới lá)
bệnh gỉ sắt (mặt trên lá)
  • Đây là loại bệnh gây hại phổ biến trên các vườn cà phê.
  • Mức độ bệnh tùy thuộc vào khả năng kháng bệnh của từng cây, nhưng một khi cây đã nhiễm bệnh thì cả chu kỳ còn lại của cây sẽ bị bệnh.
  • Nấm ký sinh vào mặt dưới của lá, ban đầu là những vết màu vàng lợt, sau đó xuất hiện lớp phấn màu da cam, các vết bệnh lớn dần và gây rụng lá một phần hay toàn bộ khiến cây bị kiệt sức.
  • Bệnh thường xuất hiện vào đầu mùa mưa và phát triển mạnh nhất vào cuối mưa. Bệnh gây hại cho cà phê theo quy luật cách năm.

Biện pháp phòng trừ:

  • Sử dụng giống kháng bệnh: TR4, TR9, TR11, TR12.
  • Loại bỏ các cây con bị bệnh ngay từ trong vườn ươm, hay ghép chồi để thay thế các cây bị bệnh nặng trong vườn.
  • Phun một trong các loại thuốc gốc đồng như dung dịch Booc-đô 1%.
  • Khi phun thuốc phải đảm bảo các yêu cầu sau: Phun vào mặt dưới của lá và phun ướt toàn bộ lá. Thời điểm phun lần đầu khi cây có 10% lá bệnh (thường xảy ra sau khi bắt đầu mùa mưa 2 – 3 tháng), phun 2 – 3 lần, mỗi lần cách nhau 1 tháng.
  • Hàng năm phải tiến hành phun thuốc vì thuốc chỉ có tác dụng phòng trừ bệnh trong năm và chỉ phun cho những cây bị bệnh.

2. Bệnh thối rễ

.

Thối rễ cà phê
Thối rễ cà phê
  • Là loại bệnh nguy hiểm vì có thể gây chết hàng loạt. Hiện nay, chưa có loại thuốc hoá học nào có tác dụng phòng trừ hữu hiệu loại bệnh này. Bệnh hại trên cà phê đặc biệt khi tái canh.
  • Bệnh do sự phối hợp tấn công của tuyến trùng Pratylenchus coffeae và các nấm Fusarium oxysporum, Fusarium sp., Rhizoctonia sp.
  • Các cây bị bệnh thối rễ thường có các triệu chứng sau: cây sinh trưởng chậm, có ít cành thứ cấp và chồi vượt, lá chuyển sang màu vàng, rễ tơ bị thối. Trên cà phê KTCB, cây thường bị nghiêng trọng trong mùa mưa do rễ cọc bị thối.

Để phòng bệnh, tạm thời phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

  • Thường xuyên kiểm tra vườn cây để phát hiện kịp thời để đào, đốt các cây bị bệnh.
  • Tăng cường bón phân hữu cơ và phân vi sinh cho cây cà phê.
  • Dùng chế phẩm sinh học như Trichoderma, Chitosan, Aradiractin để phòng và trị bệnh.
  • Hạn chế xới xáo trong vườn cây đã bị bệnh để tránh làm lây lan bệnh và tổn thương bộ rễ.
  • Đối với vườn cà phê già cỗi, vườn cà phê bị bệnh rễ sau khi thanh lý không được trồng lại ngay. Phải tiến hành rà rễ và luân canh bằng các cây ngắn ngày hoặc cây phân xanh đậu đỗ ít nhất từ 2-3 năm trước khi trồng lại cà phê.

3. Bệnh khô cành, khô quả

.

Bệnh khô cành khô quả
Bệnh khô cành khô quả
  • Bệnh có nguyên nhân do mất cân đối dinh dưỡng hay bị nấm Colletotrichum coffeanum gây nên.
  • Bệnh gây hại chủ yếu trên cành, quả, làm khô cành và rụng quả.
  • Các vết bệnh do nấm gây ra ban đầu có màu nâu vàng sau đó lan rộng và chuyển sang màu nâu sẫm, các vết bệnh thường lõm sâu xuống so với các phần không bị bệnh.

Biện pháp phòng trừ:

  • Trồng cây che bóng hợp lý và thường xuyên bón phân chuồng.
  • bón phân cân đối, hợp lý để hạn chế tình trạng cây bị kiệt sức khi quả quá nhiều. Cắt bỏ các cành bệnh.
  • Phòng trừ bằng: dung dịch Booc-đô 1%, Mancozeb.

4. Bệnh nấm hồng

.

Nấm hồng hại cà phê
Nấm hồng hại cà phê
  • Bệnh do nấm Corticum salmonicolor gây nên. Vị trí tác hại chủ yếu ở trên cành thuộc phần trên của tán, gần nơi phân cành và phần ngọn của cây.
  • Bệnh thường phát sinh trong các tháng cuối mùa mưa, nhất là những đợt mưa dầm, ẩm độ không khí cao.
  • Vết bệnh ban đầu là những chấm trắng nằm ở mặt dưới của cành về sau chuyển sang màu hồng và khi vết bệnh lan rộng khắp chu vi của cành có thể gây chết cành.
Nấm hồng hại cà phê
Nấm hồng hại cà phê

Biện pháp phòng trừ:

  • Biện pháp chủ yếu là phát hiện kịp thời để cắt bỏ các cành bệnh, nếu bệnh xuất hiện phổ biến có thể dùng hoạt chất Validamicin, hay dung dịch Boor-đô 1%.

5. Bệnh lở cổ rễ

Bệnh thường gây hại trên cây con vườn ươm, cây trong thời kỳ KTCB. Bệnh do nấm Rhizoctonia solani gây nên. Phần cổ rễ bị thối khô hay bị thối một phần khiến cây sinh trưởng chậm, lá bị vàng có thể dẫn đến chết cây.

Biện pháp phòng trừ:

  • Trong vườn ươm không để bầu đất quá ẩm hay bị đóng váng trên mặt bầu, điều chỉnh ánh sáng thích hợp. Nhổ bỏ các cây bị bệnh, phòng và trị bằng Validamicin, hoặc Booc-đô 1%.
  • Tránh gây vết thương ở vùng cổ rễ khi làm cỏ. Nhổ bỏ và đốt các cây bị bệnh nặng, các cây bệnh nhẹ có thể cứu chữa bằng cách tưới vào mỗi gốc 1-2 lít dung dịch có hoạt chất Validamicin, hoặc Booc-đô 1%.

Jackie Nguyễn

Tài liệu tham khảo

  • Quy trình canh tác cà phê của bộ NN & PTNN
  • Kỹ thuật trồng và thu hoạch cà phê xuất khẩu, NXB Giáo Dục, 1999
  • Cây cà phê ở Việt Nam, NXB. Nông nghiệp, 2000

Bài viết khác

shares