Các loài cà phê có giá trị kinh tế

Có rất nhiều loài cà phê trên thế giới, tuy nhiên chỉ có cà phê chè – Arabica và cà phê vối – Robusta là các loài cà phê có giá trị kinh tế cao. Loài cà phê mít – excelsa kém giá trị kinh tế hơn. Các loài cà phê khác chủ yếu khai […]

Có rất nhiều loài cà phê trên thế giới, tuy nhiên chỉ có cà phê chè – Arabica và cà phê vối – Robusta là các loài cà phê có giá trị kinh tế cao. Loài cà phê mít – excelsa kém giá trị kinh tế hơn. Các loài cà phê khác chủ yếu khai thác mặt di truyền để lai chọn tạo giống có ý nghĩa.

1. Cà phê chè – Coffea Arabica

  • Nguồn gốc: từ cao nguyên Jimma của Ethiopia, có độ cao 1.500-2.000m so với mực nước biển.
  • Đây là loài có hiệu quả và được ưa chuộng nhất trên thế giới, vì đặc tính hương vị thơm dịu của nó.
  • Đặc điểm thực vật: Có tán lá xanh quanh năm, cây cao từ 6-10m, một thân chính và nhiều thân phụ, cành thứ cấp và sơ cấp đều có thể mang hoa trên đốt đã mang quả.
  • Giao phấn: khả năng tự thụ 90%. Tuy nhiên, sự lai tạo tự nhiên, hay nhân tạo, hoặc đột biến cho nhiều chủng loại khác nhau.
  • Tỷ lệ trái 1 nhân (Caracoli/Coli: hạt tròn, bi) chiếm 8-15%.
  • Hàm lượng caffein trong hạt thấp: 0,8-1,9%.

Các chủng cà phê Arabica quan trọng như sau:

a. Typica (C. arabica var. typica L.)

  • nguồn gốc: từ vườn bách thảo Amsterdam, được nhập từ Châu Phi. Người Pháp đã mang chủng này qua Caribbean, được trồng phổ biến ở Nam Mỹ (Brazil), Trung Mỹ và Đông Phi với tên gọi là Nyasa.
  • Typica có đặc điểm: chóp lá non có màu đồng (bronze-tip) do gien trội BrBr quy định.
  • Năng suất: 0,3 kg nhân/cây, hay 1 tấn nhân/ha.

b. Bourbon (C. arabica var. bourbon (B. Rodr.) Chossy)

  • là chủng biến dị của Typica và được trồng ở đảo Réunion hay Buorbon bởi người Pháp.
  • Cây thấp, lóng ngắn, đọt non xanh nhạt do gien lặn brbr quy định.
  • năng suất cao hơn Typica, chất lượng thom ngon đặc biệt, nhưng hạt nhỏ hơn Typica.
  • Bourbon được trồng nhiều ở Châu Mỹ và Đông Phi.
  • Một dòng lai khác là Bourbon amarello năng suất cao hơn và trồng nhiều ở Brazil.
  • năng suất cá thể 0,78kg nhân/cây và năng suất trung bình 1,75 tấn nhân/ha.

c. Mokka (C. arabica var. mokka Cramer)

  • cũng là chủng biến dị từ Typica.
  • cây có hình thái thấp nhỏ, phân cành nhiều, nhưng năng suất kém.
  • hạt có kích thước nhỏ, nhưng chất lượng rất ngon.
  • Mokka được trồng ít ở Ả Rập và Ấn Độ

d. Caturra (C. arabica var. caturra K.M.C)

  • là biến dị của chủng Bourbon, được phát hiện ở Brazill.
  • cây thấp, lóng ngắn, lá nhiều và dày, năng suất cao
  • trái chín màu vàng
  • có khả năng thích ứng rộng và thích hợp mật độ trồng dày
  • hạt nhỏ và phẩm chất trung bình

e. Mundo Novo (C. arabica var. Mundo Novo)

  • là chủng lai tự nhiên giữa Bourbon và Arabica ở Sumatra du nhập vào Brazil do viện NN Campinas tuyển chọn.
  • cây cao, khỏe mạnh và lóng dài.
  • năng suất trái cao, nhưng hạt lép có tỷ lệ cao và vỏ trái dày.

f. Catuai (C. arabica var. catuai)

catuai - bourbon
Catuai
  • là chủng lai giữa Caturra amarello và Mundo Novo.
  • cây thấp, lóng ngắn và trái chín màu vàng
  • cây sinh trưởng mạnh, chịu hạn tốt, tán nhỏ nên được trồng với mật độ dày
  • năng suất cao, 3-5 tấn nhân/ha.

g. Blue Mountain (C. arabica var. Blue Mountain)

  • chủng biến dị của Typica ở Jamaica
  • kháng bệnh khô trái, thích hợp với trồng dày.
  • được trồng ở Kenya, Đông Phi.

2. Cà phê vối – Coffea canephora Piere

  • Tên thương mại được gọi là Robusta. Tên này, phổ biến của chủng Coffea canephora var. Robusta.
  • thích hợp với khí hậu nóng ẩm và vùng có cao độ thấp như vùng xích đạo.
  • cây cao từ 8-12m, khả năng mọc được nhiều thân, khả năng phát sinh cành thứ cấp thấp.
  • hoa cà phê robusta thuộc loại lưỡng tính nên giao phấn hoàn toàn
  • trái 3 nhân chiếm tỷ lệ 0,1-1% và tỷ lệ hạt coli từ 8-15%.
  • hàm lượng caffein từ 2,5-3% chất khô, năng suất cao.

Do thụ phấn tự do nên cà phê vối rất đa dạng sinh học trong canh tác.

a. Robusta (C. canephora var. robusta Pierre)

trồng cà phê công nghiệp
Cây cà phê robusta cho quả chín tại Việt Nam
  • được trồng nhiều nhất trên thế giới, chiếm 95% trong loài canephora
  • cây sinh trưởng và phát triển tốt nên được trồng phổ biến trên thế giới.
  • là loại được trồng phổ biến ở Việt Nam, cho năng suất và chất lượng cao nhất so với các vùng khác trên thế giới.

b. Kouilouensis (C. canephora var. kouilouensis)

  • được tìm thấy ở Châu Phi nhiệt đới vào thập niên 1880.
  • được trồng phổ biến ở Ấn Độ, Công và Ivory Coast, một phần Tây Phi và Madagascar
  • ở Brazil với tên gọi là: Conillon
  • lá nhỏ và hẹp hơn robusta, phiến lá xoăn hơn bìa lá. Trái và hạt nhỏ hơn Robusta nên năng suất thấp hơn.
  • có khả năng kháng hạn nhưng rất dễ bị nhiễm bệnh vàng lá.

c. Niaouli (C. canephora var. Niaouli)

  • nguồn gốc từ Dahomey.
  • ít được trồng vì năng suất kém, trái phát triển chậm và dễ bị mọt đục trái

một số chủng khác của C. canephora như:

  • var. nana ở Cộng Hòa Trung Phi, có khả năng kháng hạn
  • var. unganda phát hiện ở Uganda, rất giống chủng Kouilouensis, nhưng cây phát triển ở dạng bụi thấp.

3. Các dòng lai giữa C. arabicaC. canephora

  • Arabica: chất lượng cao, thích hợp với vùng cao độ hơn 1000m, nhiệt độ 15-25 độ C, mẫn cảm với bệnh rỉ sắt
  • Robusta: chất lượng kém hơn, nhưng đậm đà, thichs hợp với vùng thấp, chịu nhiệt độ tốt từ 22-26 độ C. Robusta không kén đất, năng suất cao và ổn định.
  • vì vậy, có những dòng lai giữa 2 loài có sự kết hợp hài hòa và chọn lọc đặc điểm tốt của 2 loài như sau:

a. Hibrid de Timor

  • là dòng lai tự nhiên giữa C. arabicaC. canephora, được trồng phổ biến trên đảo Timor, Indonesia.
  • đặc điểm kháng bệnh rỉ sắt và bệnh khô cành khô quả.

b. Catimor

  • dòng lai giữa Caturra và Hibrid de Timor. Kết quả nghiên cứu của Cenicafe – Colombia và Viện nghiên cứu cà phê Bồ Đào Nha trong chọn giống kháng bệnh rỉ sắt.
  • sinh trưởng khỏe mạnh, hầu hết kháng bệnh rỉ sắt và có năng suất cao

c. Arabusta (Coffea arabusta)

  • dòng lai tứ bội của Robusta và Arabica do Viện cà phê và ca cao pháp (1962).
  • kháng bệnh rỉ sắt, năng suất cao hơn Robusta tới 80%, nhưng chất lượng thức uống cao như Arabica của Brazil.
  • lá to hơn lá Robusta, cây phát triển về hình thái như Robusta, ít phân cành thứ cấp.
  • cây sinh trưởng rất khỏe, chịu hạn và thích nghi với vùng thấp, kém phì nhiêu.
  • Vì là lai khác loài, nên tỷ lệ thụ phấn kém, khoảng 70% nên trái 1 nhận rất cao, tới 40%.

d. Sarchimor

  • là dòng lai mới giữa Arabica và Robusta
  • đặc điểm giống Catimor, có khả năng kháng tuyến trùng Meloidogyne incognita nòi 1, 2 và 3.

4. Coffea excelsa Chev

  • phát hiện ra ở cao nguyên Chari
  • thích nghi ở vùng nhiệt đới có mùa khô kéo dài khoảng 5-6 tháng.
  • trồng nhiều ở Cộng hòa Trung Phi, Indonesia và Việt Nam.
  • cây cao trên 15m, sinh trưởng và phát triển khỏe mạnh
  • hàm lượng cafein trong nhân từ 1,02-1,90% chất khô
  • phẩm chất kém do có hương vị chua nhiều.

5. Coffera liberica Bullin Hiern

  • phá hiện ra ở vùng Liberria thuộc Tây Phi
  • cây cao từ 15-18m, sinh trưởng khỏe mạnh
  • trái rất to và hạt cũng rát to
  • chất lượng nước uống kém.

Như vậy, chỉ có 3 loài cà phê chính cho hiệu quả kinh tế. Còn lại các loài cà phê khác có ý nghĩa về mặt di truyền và chọn tạo giống.

Jackie Nguyễn

Tài liệu tham khảo

  • Kỹ thuật trồng và thu hoạch cà phê xuất khẩu, NXB Giáo Dục – 1999
  • Cây cà phê ở Việt Nam, NXB Giáo Dục, 2000

Bài viết khác

shares