Nhu cầu khoáng với cây cà phê vối

Xác định nhu cầu khoáng chất với cà phê nhằm cung cấp các chất hợp lý. Đó cũng là cơ sở của việc bón phân cân đối cho cà phê đạt năng suất ưng ý và đạt hiệu quả cao. Cây cần dinh dưỡng không chỉ để nuôi trái, mà phần lớn tạo ra thân, […]

Xác định nhu cầu khoáng chất với cà phê nhằm cung cấp các chất hợp lý. Đó cũng là cơ sở của việc bón phân cân đối cho cà phê đạt năng suất ưng ý và đạt hiệu quả cao.

Cây cần dinh dưỡng không chỉ để nuôi trái, mà phần lớn tạo ra thân, cành, lá, vỏ quả.

1. Nhu cầu đạm (N)

Vai trò của đạm (N):

  • Sinh trưởng cà phê, năng suất phản ứng rõ rệt với việc cung cấp đạm.
  • Cà phê trồng có cây che bóng cần lượng đạm ít hơn cà phê trồng không có cây che bóng.
  • Cà phê cần nhiều đạm trong mùa mưa để tích lũy dinh dưỡng, phát triển cành lá và nuôi quả. Thiếu đạm lúc này có thể giảm năng suất trong năm và cả năm sau.
  • Cung cấp đạm kịp thời có thể giảm rụng lá giữ được quả trên cành.

Dạng đạm sử dụng:

  • Ure là dạng đạm phổ biến nhất hiện nay. Ngoài ra, còn có đạm sun-phát amon (SA) và đạm Canxi nitrat amon (CAN).
  • Hiện nay, nông dân còn sử dụng đạm DAP (Diammonium Phosphate), KNO3 (còn gọi là Kali trắng, Kali nitrate).

Nhu cầu đạm:

  • Nhu cầu đạm cho 1 ha khoảng từ 50-400kg/ha/năm. Khi hàm lượng đạm bón cao, cần phải chia làm nhiều đợt.
  • Với cây con ngoài đồng, cây con trong vườn ươm, phun ure có tác dụng nhanh và tốt hơn bón gốc.
  • Khi thiếu đạm, cây còi cọc, là vàng đều toàn tán. Khi thiếu đạm trong giai đoạn quả, dẫn tới hiện tượng khô cành, khô quả, cuối cùng là cây chết.

2. Nhu cầu lân (P)

Giai đoạn cần lân:

  • Cây cần lân ở giai đoạn cây con và trong vườn ươm. Khi đó, lân giúp cây con phát triển bộ rễ sâu và rộng để hút nước.
  • Khi cây hình thành hoa, lân giúp chất lượng hoa nở được tốt hơn và quả đậu được nhiều hơn.
  • Khi quả gần chín, bón lân đầy đủ khiến chất lượng hạt tốt hơn và hương vị cà phê ngon hơn.

Nhu cầu với lân:

Thông thường, trên đất cà phê bón khoảng 100kg lân/năm.

Bón nhiều lân, cây không hấp thu được hết và bị cố định lại trong đất, đặc biệt với đất đỏ Bazan.

Tỷ lệ bón lân với đạm và kali, N:P:K như sau:

  • Giai đoạn cây con: NPK – 1:2:1
  • Giai đoạn cây lớn: NPK – 2:1:2

Cung cấp lân qua lá tốt hơn bón vào đất vì lân dễ bị cố định bởi sắt và nhôm.

Khả năng hấp thu lân qua cách bón:

  • rải trên mặt đất: 10,2%
  • bón thành rãnh tròn: 2,4%
  • bón bình bán nguyệt: 1,7%
  • phun trên lá: 38,0%

Thiếu lân:

  • Cây cà phê non phản ứng mạnh với phân lân, đặc biệt giai đoạn vườn ươm và kiến thiết cơ bản.
  • Nếu thiếu lân, rễ cây con và cây con phát triển kém. Vườn cây sai quả và gặp hạn hán có thể xảy ra thiếu lân.
  • Lá màu vàng rất sáng, chuyển dần dần qua màu hồng, đỏ đậm và có màu tía ban đầu ở đầu lá, sau đó toàn bộ lá.

3. Nhu cầu khoáng kali (K)

Nhu cầu kali:

  • Cây cần kali để tạo mô cứng giúp cây cứng cáp, chống hạn, đặc biệt là phát triển trái và làm chắc hạt.
  • Khi cây cà phê còn nhỏ, nhu cầu kali không rõ ràng nhưng khi cây cà phê cho năng suất vào giai đoạn kinh doanh cần rất nhiều kali.
  • K đặc biệt cần trong giai đoạn trái thành thục và sắp chín.
  • Việc bón kali cần thiết để duy trì năng suất, giảm tỷ lệ rụng quả và giảm bệnh khô cành khô quả (Tôn Nữ Tuấn Nam, 1994).
  • Loại K sử dụng là KCl (kali clorua), sau đó là K2SO4 (kali sun-phat).

Tính đối kháng với nguyên tố khác

  • Kali có tính đối kháng với Mg
  • Nồng độ Ca cao, cũng làm hạn chế sự hấp thu K
  • N và K có sự tương tác với nhau, nhưng cần bổ sung P để cân bằng dinh dưỡng cho cây.

Thiếu kali:

Thiếu K lá vàng hơi đỏ, sau đó chuyển qua thành vệt dọc theo phiến lá lá và dọc từ đầu lá đi vào.

4. Nhu cầu Canxi (ca)

  • Canxi giúp hình thành vách ngăn tế bào. Cây hấp thu Ca sẽ được tích lũy trong hạt.
  • Cà phê trồng trên đất chua thường được bón Ca theo định kỳ. Mục đích là để cải thiện pH (độ chua của đất).
  • Bón Ca bằng loại phân CAN, hoặc supper phosphate (lân nung chảy).
  • Vùng đất nhiều Ca, sẽ hạn chế sự hấp thu K và Mg.

5. Ma-giê (Mg)

  • Mg rất cần thiết để hình thành nên diệp lục.
  • Thiếu Mg thể hiện ở lá già, vì Mg là nguyên tố di động trong cây. Cây thiếu Mg, sẽ huy động chuyển Mg ở lá già lên lá non.
  • Biểu hiện thiếu Mg, giữa 2 gân lá có mày vàng, trong khi gân vẫn còn màu xanh.
  • Bón K nhiều tăng sự thiếu Mg.
  • Việc thiếu Mg, có thể phu MgSO4 nông độ 1%, phun 2 lần cách nhau 14 ngày.

7. Nhu cầu lưu huỳnh (S)

  • Ở nhiều nước trên thế giới, lưu huỳnh được xem như là nguyên tố chính bón cho cà phê. Quá trình bón phân đơn mà không bón SA (Amonium Sunphate) dẫn tới hiện tượng thiếu S trên cà phê.
  • Tôn Nữ Tuấn Nam và ctv (1995), nên bón 30kg S/ha/năm trong giai đoạn cà phê kiến thiết cơ bản. Bón 60 – 90 kg S/ha/năm trong giai đoạn kinh doanh.

8. Nhu cầu khoáng vi lượng với cà phê

Khoáng vi lượng là các chất cây cần từ ít đến rất ít, nhưng không thể thiếu. Với cây cà phê, thì nhu cầu khoáng vi lượng lại rất lớn vì hàng năm chúng bị mất đi theo lượng quả thu hái. Bón trực tiếp vào đất hoặc phun qua lá là 2 phương pháp để cung cấp vi lượng cho cây trồng.

  • Zn (kẽm): Ở Việt Nam, trên đất đỏ Bazan Tây Nguyên trồng cà phê, thiếu kẽm (Zn) thường xuất hiện. Bón vào đất (20–30 kg/ha), hoặc phun 0,2% ZnSO4 qua lá giảm sự thiếu kẽm và tăng năng suất cà phê.
  • Fe (sắt): Thiếu kẽm xảy ra khi đất kiềm, hoặc đất có hàm lượng hữu cơ cao, đồng thời xảy ra khi nồng độ P và Mg cao. Thiếu sắt, hạt cà phê có màu vàng như sáp hoặc màu vàng hổ phách.
  • Cu (đồng): Phung thuốc gốc đồng có thể cung cấp Cu cho cây, nhưng phun quá nhiều thì cây sẽ bị ngộ độc, sinh trưởng và phát triển kém.
  • Mn (man-gang): Thiếu Mn ít xảy ra, nhưng ngộ độc thì có thể xảy ra trên đất chua. Thiếu Mn, cặp lá non khi xòe ra có màu xanh nhạt, rồi vàng sáng có đốm trắng, xuất hiện vào đầu và cuối mùa mùa. Ngộ độc Mn, lá có hình lưỡi mác, ngắn lại không đều nhau, lóng ngắn lại, tạo nhiều cành hình thành chổi rồng/thần. Bón Ca cải thiện pH, giúp cây hấp thu Mn.
  • B (boron): Thiếu B rất phổ biến, nhưng khi cung cấp nhiều thì cây bị ngộ độc. Thiếu B khi Ca có nhiều trong đất, nhưng thiếu Ca lại hạn chế hấp thu B. Phun 0,4% dung dịch borax để phòng trị thiếu B.

Tiếp theo: Thiếu dinh dưỡng trên cây cà phê

Jackie Nguyễn

Tài liệu tham khảo

Bài viết khác

shares