Kỹ thuật trồng và sơ chế Ca Cao

Cây cacao là cây công nghiệp thực phẩm có giá trị kinh tế rất lớn với ngành nông nghiệp Việt Nam. Cây thích nghi rộng, trồng trên nhiều loại đất. Có thể trồng thuần hoạc xen nên cây ca cao trồng dưới tán dừa ở đồng bằng sông cửu long, hoạch dưới tán điều ở […]

Cây cacao là cây công nghiệp thực phẩm có giá trị kinh tế rất lớn với ngành nông nghiệp Việt Nam. Cây thích nghi rộng, trồng trên nhiều loại đất. Có thể trồng thuần hoạc xen nên cây ca cao trồng dưới tán dừa ở đồng bằng sông cửu long, hoạch dưới tán điều ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ như: Đồng Nai, Bình Phước, Đak Nông, Đak Lak. Tuy nhiên, nên trồng ca cao ở nơi đất xấu ít cạnh tranh với loại cây trồng khác.

Yêu cầu sinh thái

  • Độ cao: Tối đa 800m so với mực nước biển
  • Nhiệt độ: Trung bình 25oC, tối đa 35oC, tối thiểu 18oC.
  • Ẩm độ: 70-80%
  • Lượng mưa: trung bình 1800-2000mm/năm, phân bố đều
  • Ánh sáng: Giai đoạn kiến thiết cơ bản cần từ 30-50% lượng chiếu sáng. Giai đoạn kinh doanh cần 70-80% lượng chiếu sáng.
  • Đất đai: Thích hợp nhất là đất cơ giới nhẹ và giàu hữu cơ, thoát nước tốt, độ dày canh tác >1,5m, ít chua (pH: 5,5-6,5). Không trồng cacao nơi có độ mặn >0,4% kéo dài 3 tháng mùa khô, hoặc nơi độ dốc > 30%.

Thiết kế vườn trồng

Chống xói mòn

Nơi đất dốc trên đồi núi cần thiết kế đường đồng mức và lập các bờ cản nước hay trồng cây che phủ như cỏ Vetiver (Vetiveria zizanoides L.), cỏ xả (Ghine – Panicum maximum).

Trồng cây che bóng, chắn gió

  • Yêu cầu cây che bóng: Sinh trưởng phát triển nhanh, rễ nhánh ít, ít cạnh tranh dinh dưỡng với cacao, tán lá thưa và không trút lá vào mùa khô.
  • Cây che bóng tạm thời: Sử dụng cây ngắn ngày như: Muồng hoa vàng (Crotalaria sp.), điền thanh (Tephrosia candida), chuối (Musa sp.), đu đủ (Carica papaya L.), so đũa (Sesbania grandiflora L.),… với 2 hàng cacao, 1 hàng cây che tạm
  • Cây che bóng vĩnh viễn:
    • Ca cao trồng thuần thì nên trồng keo dậu (Leuceana glauca),…
    • Nhưng nên thay thế bằng các loại cây ăn trái, công nghiệp để tăng thu nhập, tăng hiệu quả sử dụng đất, đặc biệt giảm thiểu rủi ro, như: Mãng cầu, bơ, maca, hoa hòe,v.v.
    • Có điều kiện, nên trồng cây che bóng lâu năm trước 6-12 tháng,
    • Khoảng cách tùy loại cây, như hoa hòa có thể 2 hàng cacao/1 hoa hòa, miễn sao đảm bảo khoảng 70% ánh sáng lọt xuống cây cacao.
  • Cây chắn gió:
    • Trồng xung quanh bờ lô, đường biên và nên trồng trước đó 1-2 năm.
    • Lựa chọn cây có giá trị kinh tế như mít, nhãn,v.v.

Khoảng cách trồng

  • Đất tốt nên trồng thưa với mật độ 1110 cây/ha (3 x 3m) hoặc952 cây/ha (3 x 3,5m)
  • Đất xấu nên trồng dày, mật độ 1333 cây (3 x 2,5m), hoặc 1,600 cây/ha (2,5 x 2,5m)                  
  • Đất dốc phải trồng theo đường đồng mức.

Đào hố và xử lý đất

  • Đào hố và phơi nắng trước 1 tháng để diệt trừ mầm mống bệnh.
  • Kích thước hố đào 50 x 50 x 50 cm hoặc lớn hơn
  • Khi đào hố, lớp đất mặt để qua 1 bên, tầng dưới để qua 1 bên. Khi trộn hỗn hợp phân + đất lấp hố cần lấy lớp đất mặt để trộn.
  • Bón lót: 10-15kg phân chuồng hoai + 0,5kg vôi + 0,5 kg lân nung chảy/hố. Trộn đều phân với lớp đất mặt rồi lấp lại 2/3 hố. Bón lót trước 15-20 ngày khi trồng cây.

Trồng mới

Chọn giống

  • Chọn các loại giống được công bố, phù hợp với từng vùng, từng địa phương
  •  Bố trí 4-5 loại giống trong vườn, trồng xen kẽ mỗi giống một hàng để đảm bảo tỷ lệ thụ phấn cao.
  • Tiêu chuẩn cây giống: Cây xanh tốt, thành thục, vết ghép đã liền và tiếp hợp tốt, không bị nhiễm sâu bệnh.

Thời vụ trồng

  • Vùng chủ động nguồn nước: có thể trồng quanh năm
  • Vùng không chủ động nguồn nước: nên trồng vào đầu và giữa mùa mưa.

Kỹ thuật trồng mới

  • B1: Đào một hố nhỏ chính giữa hố trồng, với độ sâu tương ứng với chiều cao bầu cây giống
  • B2: Dùng dao sắc cắt bỏ phần đáy bầu và phần rễ cái bị cong (nếu có). Đặt bầu cây vào hố, đảm bảo vị trí cổ rẽ ngang mặt đất, hướng ngon lá theo hướng gió chính. Lấp xung quanh bầu, nén nhẹ và từ từ kép nilon ra khỏi bầu đất, lấp đất bằng với mặt bầu.
  • B3: Dùng cọc gỗ hoặc cọc tre cố định cây, bằng cách cắm đứng hướng ngược chiều nghiên cửa cây, cách gốc cây 20cm, buột thân cây vào cọc.
  • B4: Sử dụng rơm rạ, lá dừa,v.v. tủ gốc để giữ ẩm và hạn chế cỏ dại
  • B5: Cần tưới nước nếu trồng cây không gặp mưa
  • B6: Làm túm che nắng nếu cây che bóng tạm thời không đủ che. Túm lá dừa, bao cước, lưới đen, v.v…
  • B7: Dùng thuốc trừ mối đặc trị mối với vùng mối gây hại nghiêm trọng.

Chăm sóc sau trồng 

  • Cố định cây: Duy trì cố định cây giai đoạn cây con, để tránh cây bị gió quật ngả đổ
  • Trồng dặm: Theo dõi cây chết, sâu bệnh, thay thế kịp thời đảm bảo mật số vườn cây ổn định
  • Làm cỏ: Làm cỏ định kỳ xung quanh gốc, tránh sự cạnh tranh dinh dưỡng, nước và ánh sáng với cây ca cao.
  •  Tưới nước: Tưới nước khi cây héo

Bón phân giai đoạn kiến thiết cơ bản

  • Phân hữu cơ: Đầu mùa mưa, bón phân chuồng hoai mục bón 5kg/cây/năm, hay hữu cơ vi sinh 1 kg/cây/năm.
  • Phân hóa học: Phân đa lượng tránh những phân gây chua, theo định lượng sau:

Lân bón đầu mùa mưa, còn Kali và ure trộn chung với nhau, chia làm 4 – 5 lần bón trong năm 1, 6-7 lần trong năm 2. Bón ngoài mép tán lá, nên đào rãnh rải phân và lấp lại.

  • Vôi: 200-300gram/cây/năm, bón vào giai đoạn đầu mùa mưa, khi đất ẩm.
  • Vi lượng: chú ý Bo và Kẽm, đặc biệt vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.

Bón phân thời kỳ kinh doanh

  • Phân hữu cơ: Phân chuồng hoai mục bón 10 kg/cây/năm, hoặc 2 kg hữu cơ vi sinh/cây/năm. Bón đầu mùa mưa và nên đào rãnh lấp đất, lá lại.
  • Phân vô cơ: Hạn chế sử dụng phân chua và lượng phân bón tương ứng với năng suất của vườn cây.

Lân nung chảy bón vào đầu mùa mưa, còn lại kali và ure trộn chung chia làm 4 lần bón:

L1: Vào tháng 5, sau khi tỉa cành. Bón phục hồi tán cây, kích thích ra hoa, đậu quả cho mùa chính

L2: Vào tháng 7,8. Nuôi quả, hạt, tăng năng suất

L3: Vào tháng 11, sau khi thu hoạch và tỉa cành. Phục hồi tán cây, kích thích ra hoa, đậu quả cho mùa phụ

L4: Vào tháng 2, vụ phụ. Nuôi quả, hạt, tăng năng suất.

Lưu ý: bón dưới mép ngoài tán lá, nên đào và bón theo rãnh, sau đó lấp đất, lá lại.

  • Vôi: Bón 0,5 kg/cây/năm vào đầu mùa mưa, nên bón rải đều trên mặt đất quanh tán lá.
  • Phân vi lượng: Bón chung với ure, kali nếu rải gốc, hoặc phun qua lá khi cây có triệu chứng thiếu.

Tỉa cành tạo tán

  • Nguyên tắc: Phải thông thoáng phía dưới, phía trên phải che phủ cho bên dưới.
  • Tán cây phân bố đều, nên để từ 3 – 5 cành (cây thực sinh) hoặc 3 – 5 thân (cây ghép). Nếu để thân hoặc cành quá dày dẫn đến hoa ít, năng suất thấp.

Cây trồng thực sinh:

  • Chỉ để một thân duy nhất, cần tỉa chồi vượt thường xuyên.
  • Độ cao phân cành tốt nhất là 1,4 – 1,6 m
  • Trường hợp cây Ca cao phân cành thấp (không có cây che bóng, che túp hoặc thiếu dinh dưỡng) bấm ngọn nuôi chồi vượt phía trên (1 – 2 chồi khoẻ phía trên ngọn, sau tỉa bớt để lại 1 chồi theo hướng thẳng đứng). Phương pháp này hạn chế thực hiện, tốt nhất sau khi trồng phải được che túp.

Cây ghép:

  • Khi trồng bầu mắt ghép phải có cây tạm (cây khô, tre nứa) để buộc cho mắt ghép thẳng đứng (chú ý không buộc quá chặt và buộc bằng dây mềm).
  • Nên tỉa bớt cành nằm sát mặt đất. Nếu cành phát triển cùng một phía, nên hãm ngọn để cành ngang phát triển đều các phía (khi hãm ngọn cần tỉa bớt cành yếu theo kiểu cách đều hai bên, nên để 3 – 5 cành).

Lưu ý: Phải loại bỏ những cành tăm, cành mọc xiên vào phía trong tán, cành mọc quá gần nhau. Thời gian bấm cành, tạo hình phải thường xuyên, song các năm đầu sau trồng (1 – 2 năm) phải cẩn thận với việc tạo hình. Nếu không làm tốt sẽ ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển sau này.

 

SÂU BỆNH HẠI CÂY CA CAO

 

Côn trùng hại chính

Bọ xít muỗi (Helopeltis spp.)

Triệu chứng và tác hại: Chích hút nhựa trái, chồi non, cành non. Các vết chích bị thâm đen, các trái non bị chích thường héo khô, trái lớn bị chích có nhiều vết thâm phát triển dị dạng, ít hạt và nhiều nguy cơ bị nấm hại xâm nhập.

Biện pháp phòng trừ: Vệ sinh vườn sạch sẽ, tỉa bớt cành nhánh không cần thiết. Có thể phun các loại thuốc như Fenobucarb (Bassa, Bascide, Bassan), Diazinon (Basudin, Vibasu), Dimethoate (Bi 58, Bian, Dithoate). Phun thuốc vào sáng sớm lúc côn trùng di chuyển chậm chạp. Bọ xít muỗi có thể phòng trị rất hữu hiệu bằng cách nuôi kiến đen loài Dolichoderus thoracicus trong vườn ca cao.

Bọ xít muỗi có thể phòng trị rất hữu hiệu bằng cách nuôi kiến đen loài Dolichoderus thoracicus trong vườn ca cao.

Sâu hồng (Zeuzera sp.)

Triệu chứng và tác hại: Sâu thường đục phần ngọn thân và các cành rồi đùn phân và mạt cưa ra ngoài miệng lỗ đục và rơi xuống đất. Những cành ca cao bị đục sẽ bị héo rồi chết khô.

Biện pháp phòng trừ: Thường xuyên thăm vườn để phát hiện sớm sau đó cắt các cành bị hại và đốt để diệt sâu nằm bên trong thân. Các loại thuốc được sử dụng như Cartap (Mapan, Padan, Vicarp), Fipronil (Regent, Brigant) hoặc Cypermethrin (Carmethrin, Cyper, Sherpa, Alpha Cypermethrin) xịt vào nơi sâu thích đục lỗ như đầu cành non, chồi non. Có thể pha loãng thuốc bơm vào lỗ đục hoặc nhét thuốc hạt.

Bọ cánh cứng hại lá (Adoretus spp., Apogonia spp.) 

Bọ cánh cứng ăn lá ca cao thuộc nhiều loài khác nhau như bọ nâu, bọ xám, bọ hung kim.

Triệu chứng và tác hại: Chủ yếu phá hại vào ban đêm, ban ngày trú ngụ nơi tối hay dưới đất. Bọ ăn lá tạo những lỗ khuyết trên lá làm giảm diện tích quang hợp. Với ca cao trưởng thành sự tác hại không đáng kể nhưng cây con và cây trong giai đoạn vườn ươm ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển.

Biện pháp phòng trừ: Phun lá với các loại thuốc vị độc hoặc tiếp xúc như Carbaryl (Sevin, Carbavin, Sebaryl), Cypermethrin (Sherpa, Cyper, Carmethrin), Dimethoate (Bi 58, Bian, Dithoate) hoặc trộn vào đất thuốc Diazinon (Basudin, Vibasu) hạt theo nồng độ khuyến cáo của nhà sản xuất.

Câu cấu

Triệu chứng tác hại: Quan trọng đối với ca cao còn nhỏ. Thành trùng gặm vỏ thân/cành còn xanh hoặc bánh tẻ, ăn lá non nhất là lá non vừa nhú khỏi chồi. Cây bị hại còi cọc, không phát triển và có thể chết. Đối với cây lớn trên 18 tháng tuổi sự tác hại của côn trùng này không nguy hiểm.

Cây ký chủ khác của câu cấu là dâm bụt vốn có rất nhiều quanh vườn ca cao. Do đó, muốn trị câu cấu có hiệu quả cần thay thế cây hàng rào này bằng loại khác hoặc phải phun thuốc cùng lúc khi xử lý cây ca cao.

Biện pháp phòng trừ: Phun các loại thuốc có hoạt chất L-Cyhalothrin, Decamethrin (Decis) hoặc Cypermethrin (Sherpa, Cyper, Carmethrin). Thuốc lưu dẫn Carbofuran (Furadan) dạng hạt cho thấy rất hiệu quả khi rải lên vùng rễ của cây ca cao. Thuốc được rễ hấp thu và vận chuyển vào thân và lá.

Rầy mềm (Toxoptera sp.)

Triệu chứng và tác hại: Rầy mềm sống tập trung và chích hút nhựa cây trên các chồi non, lá non, trái non làm cây chậm phát triển, trái khô héo. Thường có các loài kiến sống kếp hợp với loài rầy này.

Biện pháp phòng trừ: Vệ sinh vườn sạch sẽ, có thể phun các loại thuốc như Trebon 10EC, Bassa 50EC, Mipcin 50EC, Servin 85WP theo nồng độ khuyến cáo của nhà sản xuất.

Rệp sáp (Planococcus citri)

Triệu chứng và tác hại: Rệp sáp sống bám vào cuống, lá, trái, thân, quả non hay cổ rễ để hút nhựa làm cây, trái chậm phát triển và còi cọc. Rệp tiết ra chất hơi dính như mật ong nên thường có nhiều loài kiến sống kết hợp với rệp. Trường hợp có kiến đen ca cao, không cần phải phun thuốc.

Biện pháp phòng trừ: Cần chú ý theo dõi để phát hiện những ổ rệp sáp mới hình thành, tránh lây lan. Có thể diệt rệp sáp bằng cách phun các thuốc trừ sâu như Methidathion (Supracide, Suprathion), Fipronil (Regent, Brigant).

Sâu khoang (Prodenia litura)

Triệu chứng và tác hại: Sâu non sống tập trung và tấn công ca cao bằng cách chỉ gặm phần thịt lá, chừa lại màng và gân lá. Sâu lớn sống rải rác và ăn khuyết lá. Sâu phá hại mạnh vào ban đêm, ngày ẩn nấp ở dưới đất, trong các lá khô, cỏ dại.

Biện pháp phòng trừ: Thường xuyên kiểm tra vườn để phát hiện kịp thời. Phòng trừ sâu bằng thuốc trừ sâu như Padan 95SP, Elsan 50EC, Ofatox 400 EC, Sumithion 50ND.

Sâu đo xám (Hyposidra talaca)

Triệu chứng và tác hại: Sâu cắn phá trên các bộ phận của cây từ lá, chồi non, hoa và trái. Đối với cây con sâu cắn lá non, chồi ngọn làm héo ngọn cây hay gây chết cành. Đối với cây lớn sâu cắn phá nụ hoa, hoa hay trái làm cho hoa trái bị hư và rụng.

Biện pháp phòng trừ: Thường xuyên kiểm tra vườn để phát hiện và phòng  trị kịp thời. Phòng trừ sâu bằng thuốc trừ sâu như Cartap (Padan, Mapan, Vicarp),  Phenthoate (Elsan, Nice, Forsan, Phenat), Fenitrothion (Ofatox).

Sâu bao (Pagodiella hekmeyeri)

Triệu chứng và tác hại: Sâu non có màu nâu xám trú ngụ trong những bao tự  làm bằng cách nhả tơ kết những lá hay cành cây. Sâu non cắn phá lá và cành non, vỏ cành già và thân cây. Trường hợp phá hại nặng làm cây trụi lá, chồi non làm cây bị còi cọc.

Biện pháp phòng trừ: Thường xuyên thăm vườn để phát hiện sớm, có thể  bắt bằng tay hoặc sử dụng các loại thuốc như Terex, Diptecide, Mace, Lancer.

Sâu đục vỏ trái (Cryptophlebia encarpa).

Triệu chứng và tác hại: Sâu đục luồn quanh vỏ trái tạo các đường rãnh. Làm rụng trái non, giảm năng suất trái lớn.

Biện pháp phòng trừ: Trong trường hợp bị nặng phun thuốc có gốc cúc  tổng hợp Deltamethrin (Decis, Deltaguard). Trái, vỏ trái bị sâu phải được chôn để tránh sâu hoặc trứng có sẵn trên trái phát triển thành thành trùng.

Sâu đục vỏ thân/thân (Endoclita hosei)

Triệu chứng và tác hại: Lúc đầu sâu đục thành những rãnh ở lớp vỏ cây sau đó đục vào thân cây. Mùn cưa đục từ thân kết hợp với chất keo do sâu tiết ra bao phủ các đường rãnh để bảo vệ sâu non.

Biện pháp phòng trừ: Sử dụng Fipronil (Regent, Brigant), Cartap (Mapan, Padan, Vicarp).

Sâu đục trái (Conopomorpha cramerella)

Đây là loại sâu hại nguy hiểm nhất cho ngành trồng ca cao. Nếu không phòng trị có thể 100% trái bị tấn công. Việt Nam hiện chưa có loại sâu này, nhưng cần phải theo dõi để phát hiện và phòng trị kịp thời là rất cần thiết (có hướng dẫn sau).

Mối

Mối là một trong những côn trùng chính phá hại ca cao trong thời kỳ kiến thiết cơ bản, nhất là ở các vùng đất mới khai phá, gần rừng, trong vườn điều, vườn rừng hoặc vườn có cây che bóng đã thiết lập. Thiệt hại về mối có thể lên trên 50% trong vòng hai tuần lễ sau khi trồng, do đó phải chú ý phòng trừ ngay từ đầu.

Biện pháp phòng trừ: dùng thuốc trừ sâu có hoạt chất Imidacloprid (Confidor, Admire) hoặc Chlorpyrifos (Mapy, Lentrek, Pyrinex, Losban). Phun dưới đáy và quanh thành hố trồng trước khi đặt cây vào. Sau khi trồng xong phun trên mặt đất nơi trồng cây và toàn thân cây.

Lưu ý, Furadan vốn hay dùng để diệt mối nhưng không có hiệu quả khi sử dụng ở Miền Đông và Tây Nguyên.

 

Bệnh hại chính

Bệnh thối trái, loét thân, cháy lá (Phytophthora palmivora)

Đây là bệnh chính trên ca cao. Bệnh xuất hiện mọi nơi, mọi bộ phận (lá, thân, hoa) qua mọi giai đoạn trong quá trình sinh trưởng từ vườn ươm cho đến khi thu hoạch. Bệnh phát triển mạnh vào mùa mưa, trong môi trường có độ ẩm cao. Ngoài ca cao, Phythophthora palmivora còn có các ký chủ khác như sầu riêng, cao su, bơ, đu đủ.

Bệnh phát tán từ hai nguồn chính là đất và trái bệnh: Từ đất: Nước mưa làm đất có mầm bệnh văng bám lên cây, lên lá; kiến và mối tha đất có mầm bệnh làm tổ trên thân cây; Từ trái bệnh: Bào tử phát tán do gió, nước mưa, côn trùng (bọ cánh cứng Scolytid và Nitidulid).

Biện pháp phòng trừ: Sử dụng giống kháng; Hái bỏ ngay trái bệnh đem chôn để tránh bào tử phát tán do gió, nước mưa và côn trùng; Tỉa cành hợp lý tạo thông thoáng, giảm độ ẩm dưới tán lá trong vùng thân/cành mang trái; Điều chỉnh mật độ cây che bóng thích hợp để đủ ánh sáng và thông thoáng trong vườn ca cao.

Sử dụng thuốc: Dùng thuốc gốc đồng (Champion, Kocide, Coc 85,…) hoặc Metalaxyl phun định kỳ để phòng. Khi xuất hiện triệu chứng bệnh nên phun Fosetyl-Al (Aliette, Alpine, Fungal) hoặc Metalaxyl (Ridomil, Mataxyl, Rampart).

Bệnh loét thân, nếu phát hiện sớm dùng dao cạo bỏ phần vỏ bệnh sau đó bôi thuốc gốc đồng, Metalaxyl hay Fosetyl-Al. Bệnh cũng được trị rất hiệu quả nếu sử dụng Potassium phosphonate (Agri-Fos 400, Foli-R-FOS-400) chích thẳng vào mạch gỗ thân cây.

Cách sử dụng Potasium phosphonate: Pha loãng thuốc để đạt nồng độ thuốc 200 g/l ai potassium phosphonate. Chích 20 ml/cây (cây có đường kính < 10 cm) hoặc chích 40 ml/cây (cây có đường kính 10 – 20 cm). Để phòng ngừa cần chích 1 lần/năm vào đầu mùa mưa khi cây ra lá mới. Nên chích thuốc vào buổi sáng. Nơi có nguy cơ bệnh cao, cần chích 1 lần/6 tháng. Chích thuốc cũng làm giảm tỉ lệ  thối trái rất hiệu quả.

Bệnh vệt sọc đen (Oncobasidium theobromae)

Bệnh vệt sọc đen cũng còn được gọi là bệnh VSD (Vascular Streak Dieback). Bệnh phát triển và phát tán chủ yếu khi mưa nhiều, ẩm độ không khí cao. Bào tử  phát tán vào sáng sớm (3 – 9 giờ sáng) và xâm nhập vào lá non trên cành. Từ khi bào tử xâm nhập đến khi có biểu hiện bên ngoài kéo dài khoảng 2 – 3 tháng.  Trong thời gian đó các đợt lá mới phát triển nên lá bệnh được nhìn thấy ở vị trí sau một đợt lá kể từ ngọn đếm ngược vào.

Triệu chứng tác hại:

– Một hoặc nhiều lá nằm sau đợt lá cuối cùng có màu vàng với những đốm  xanh. Đôi khi triệu chứng chỉ biểu hiện rìa lá bị khô.

– Thân sần sùi với những mụt nhỏ do bì khổng nở rộng.

– Nhiều chồi bên phát triển nhưng không bao giờ hoàn chỉnh.

Đối với cây con triệu chứng không đặc trưng như cây lớn. Thường cây con nhiễm bệnh biểu hiện bên ngoài lớn chậm, lá vàng, lá chân rụng sớm, khoảng cách giữa các lá ngắn.

Những triệu chứng nêu trên chỉ giúp người quan sát dễ phát hiện chứ chưa thể khẳng định bệnh VSD. Cần kiểm tra tiếp triệu chứng quan trọng sau:

– Lột vỏ hoặc chẻ dọc đoạn cành nhiễm bệnh thấy có những sọc đen. Triệu chứng này được dùng để đặt tên bệnh.

– Các bó mạch tại sẹo lá thâm đen nên khi cắt ngang bề mặt thấy có 1-3 đốm đen tương ứng với 3 bó mạch dẫn. Đây là triệu chứng tin cậy nhất và dễ kiểm tra để xác định bệnh khô ngược cành. Khi bệnh tiến triển mạnh cành khô và chết ngược dần từ ngọn vào.

Biện pháp phòng trừ: Biện pháp phòng chủ yếu là sử dụng giống kháng, tỉa cành thông thoáng để giảm ẩm độ không khí. Khi cành bị nhiễm bệnh, tỉa bỏ cành cách nơi có triệu chứng bệnh (sọc đen nơi mô mộc) khoảng 30 cm về phía gốc. Đối với cây con bị bệnh (giai đoạn vườn ươm hoặc 1 năm tuổi sau khi trồng) nên nhổ bỏ và thay cây khoẻ mạnh khác. Nấm không phát triển tiếp tục trên cành đã tỉa bỏ nên không cần phải chôn, đốt hoặc chuyển đi nơi khác.

Dùng Triadimenol (Bayfidan) nồng độ 2.5ml/10l nước, phun 1 tuần/lần. Theo Flood và cộng sự (2004) có thể dùng thuốc lưu dẫn Propiconazole quét vào thân cây hoặc phun vào cây con trong giai đoạn vườn ươm.

Bệnh héo rũ (Ceratocystis fimbrata)

Triệu chứng và tác hại: Khởi đầu héo rũ một vài cành, lá chuyển sang màu nâu nhưng vẫn dính trên cành, sau đó toàn bộ cây chết.

Bệnh thường xuất hiện nhiều hơn ở những cây đã bị mọt đục cành. Biện pháp phòng trừ: Để phòng trừ cần hạn chế gây ra vết thương trên cây và xử lý bằng  thuốc trừ nấm như Mancozeb (Dithane, Mancozeb), Carbendazin (Carben, Carbenvil, Vicarben).

Bệnh nấm hồng (Corticium salmoncolor)

Triệu chứng và tác hại: Bệnh thường chỉ xuất hiện vào mùa mưa, ở những vườn ca cao quá ẩm và rợp do tán lá dày và mật độ cây trồng cao. Nấm tấn công ở những cành đã hoá nâu. Nấm bệnh lúc đầu có màu mốc trắng nhưng dần chuyển sang màu trắng hồng, hoặc vàng. Tên bệnh được đặt theo màu của nấm trong giai đoạn này. Đây cũng là giai đoạn nấm phóng thích bào tử và phát tán mầm bệnh. Nấm mọc sâu vào phần gỗ cành. Lá phần trên của cành nhiễm bệnh sẽ vàng và khô nhưng vẫn lưu trên cành một thời gian. Cành khô nâu và chết, lớp vỏ thân cành bị tách ra từng mảng.

Nếu điều kiện nắng khô trở lại, bệnh phát triển chậm lại và cây có thể phục hồi nhưng dễ tái phát nếu mưa trở lại mà không có biện pháp cải thiện như vệ sinh đồng ruộng hoặc xử lý thuốc.

Biện pháp phòng trừ: Để phòng trừ biện pháp chính là làm tăng độ thông  thoáng của tán lá bằng cách tỉa cành hợp lý và giảm bóng che. Ở mức độ nhẹ, bệnh có thể được kiểm soát bằng cách tỉa cành thường xuyên. Cành bệnh được bỏ bằng cách cắt dưới đường ranh (phần tiếp giáp giữa vùng có nấm mọc và không) 30cm. Những cành bệnh cần được đốt bỏ. Nếu cành bệnh có đường kính lớn, nên quét lên thân các loại thuốc có gốc đồng (Champion, Fungunran, Kocide, Benlat), Propiconazole (Tilt, Zoo, Lunasa, Tiptop) hoặc (Validamycin A (Validacin, Vanicide).

Bệnh hại rễ (Rigidoporus lignosus, Ganoderma pseudoferum, Phellinus noxius, Rosellinia bunodes)

Triệu chứng và tác hại: Rễ ca cao có thể bị trắng, bị hoá nâu, hoá đen hoặc nứt cổ rễ gây ra bởi nhiều loại nấm khác nhau. Biện pháp phòng trừ: Vệ sinh đồng ruộng, xử lý hố trước khi trồng, tránh trồng nơi đất khó thoát nước, tránh tổn thương rễ.

Phòng trị bằng các loại thuốc trừ nấm: Propiconazole (Tilt, Zoo,  Lunasa, Tiptop), Iprodione (Rovral, Cantox) phun trực tiếp quanh gốc. Đào rễ bệnh đốt bỏ. Không trồng lại nơi có cây bệnh cho đến khi những rễ còn sót lại của cây bệnh bị mục hoàn toàn.

Bệnh khô thân (Algal rust)

Triệu chứng và tác hại: Thân, cành bị nắng chiếu trực tiếp làm tổn thương mô dưới biểu bì. Sự tổn thương càng trầm trọng khi đang nắng gắt cây gặp nước (do  mưa hoặc tưới). Mô tổn thương bị tạp nhiễm các loại nấm như Collectotrichum,  Fuzarium,… và tảo. Tảo không làm hại cây nhưng các loại nấm hại phát triển và làm khô chết cành.

Lớp tế bào dưới biểu bì thân/cành có màu sậm như hiện tượng cháy nắng,  sau thời gian bào tử màu vàng cam xuất hiện từ vùng nhiễm bệnh. Lá nhỏ, kém phát  triển có màu nhạt. Cây ít hoặc không có lá non. Bệnh thường xảy ra cả mùa khô lẫn mùa mưa, đặc biệt là đối với những cây ca cao thiếu bóng che hoặc bị tỉa quá nặng để ánh sáng chiếu trực tiếp vào thân cành trong thời gian dài. Bệnh phát triển  mạnh trong khoảng giao mùa nắng mưa. Ca cao ở Miền Đông và Tây  Nguyên rất hay bị bệnh này.

Biện pháp phòng trừ: giữ cho thân cành đủ bóng che, thúc phân và tưới nước đầy đủ để lá mới phát triển nhanh che phủ cây, tăng tăng bóng che của cây che bóng. Củng cố hàng cây chắn gió. Xử lý cây đang bệnh bằng cách phun hoặc bôi  các loại thuốc có gốc đồng (Copper-B, Champion, Copperzine, COC 85).

THU HOẠCH VÀ SƠ CHẾ CA CAO

Thu hoạch trái

Chỉ thu hoạch khi trái đã chín là lúc trái có màu vàng hoặc đỏ cam tuỳ theo giống. Trái chín thuận lợi cho việc lên men, hàm lượng bơ trong hạt cao và có hương thơm tốt nhất.

Trái chưa chín sẽ khó bóc hạt và khi lên men chất lượng hạt kém (hạt chai, xám). Trái chín quá dễ bị hư do sâu bệnh, chuột, sóc phá hại hoặc hạt nẩy mầm trong trái (đối với một số giống).

Dùng kéo tỉa cành hoặc dao bén để cắt cuống trái nhằm tránh làm tổn thương đệm hoa sẽ ảnh hưởng xấu tới sự ra hoa kết trái ở các vụ sau.

Tồn trữ trái

Một trong những kỹ thuật nâng cao chất lượng ca cao là tồn trữ trái. Trái ca cao được thu hoạch cẩn thận, tránh làm nứt dập và trữ vào nơi thoáng mát từ 7-9 ngày khi lên men có chất lượng cao nhất. Hạt khi đã tách khỏi trái cần phải ủ ngay trong ngày.

Sơ chế hạt

Đập quả và tách hạt 

Trái được đập vào lưỡi dao gắn ngược có bề dày cố định để tránh bị hư hạt bên trong. Hạt được tách khỏi lõi trái (thai toà) là bộ phận nơi hạt dính vào, không  để lõi, vỏ trái lẫn vào hạt vì người thu mua xem đây là tạp chất và sẽ hạ tiêu chuẩn sản phẩm.

Ủ hạt/lên men 

Trong quá trình lên men màu của tử diệp được chuyển từ màu tím sang nâu sô cô la. Khi lên men nhiều quá trình hoá học xảy ra làm giảm vị đắng, chát và tạo các tiền chất của hương thơm ca cao. Chất lượng ca cao được quyết định phần lớn do kỹ thuật lên men.

Các phương pháp lên men/ ủ hạt ca cao:

    • Ủ đống: Hạt cacao được đổ đống thành hình nón trên lớp lá chuối được xếp  tròn trên mặt đất. Bên dưới lá chuối kê các cành cây để tạo độ thoáng và giúp dịch nhầy chảy ra dễ dàng. Tủ kín bằng lá chuối trên bề mặt khối hạt nhằm giữ hơi nóng trong suốt thời gian ủ, nếu trời lạnh có thể phủ thêm bao. Đống hạt có thể từ 25-2500 kg hạt tươi.
    • Ủ thùng: Ca cao được chứa trong thùng gỗ có đục lỗ ở đáy. Chiều dài và rộng của thùng có thể thay đổi tuỳ theo lượng hạt, nhưng chiều cao khối hạt không nên vượt quá 50cm. Khối lượng ủ từ 50-1000 kg.
    • Ủ thúng: Lót lá chuối vào thúng tre nhưng phải để nước dễ thoát ra khỏi thúng trong quá trình lên men; đổ đầy hạt, đậy thúng lại bằng lá chuối hoặc bao gai để giữ nhiệt. Hai ngày sau khi ủ, trộn đều hạt bằng cách đổ từ thúng này sang thúng khác. Với khối lượng hạt nhỏ, ban ngày nên đặt thúng dưới ánh nắng mặt trời để tăng nhiệt độ.

Đảo trộn khối hạt 

Quá trình lên men kéo dài 5 – 6 ngày tuỳ thuộc vào nhiệt độ khối hạt và môi trường chung quanh. Sau khi ủ 48 giờ phải đảo trộn khối hạt lần đầu và đảo trộn lần hai sau 96 giờ (4 ngày). Quá trình lên men tốt khi khối hạt đạt từ 48 – 500C trong giai đoạn lên men hiếu khí.

Làm khô hạt

Hạt sau khi lên không cần phải rửa vì sẽ làm vỏ mỏng, dòn, dễ vỡ tạo đều kiện cho nấm móc xâm nhập và phát triển. Hạt được làm khô ngay bằng cách phơi nắng hay sấy để độ ẩm từ 60% xuống khoảng 7,5 – 8%. Nếu ẩm độ hạt cao hơn 8% nấm mốc dễ phát triển, ngược lại nếu hạt quá khô, ẩm độ nhỏ hơn 7%, hạt sẽ dòn dễ vỡ. Nhiệt độ trong quá trình phơi sấy không nên vượt quá 650C, thời gian phơi sấy thường kéo dài từ 3 – 10 ngày.

Tồn trữ hạt

Hạt khô sau khi loại bỏ tạp chất và phân loại theo kích cỡ hạt, được cho vào bao và được tồn trữ nơi khô ráo, thoáng mát. Do hàm lượng chất béo cao trong hạt nên ca cao rất dễ hấp thu các mùi lạ làm giảm phẩm chất. Hạt tồn trữ phải tránh xa nguồn khói, xăng dầu, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón,…

Nếu lưu trữ hạt ca cao lâu, cần hun trùng để trị sâu mọt đục hạt bằng phosphine (aluminium phosphide) trong 96 giờ.

 

Chất lượng hạt

Ngoài yếu tố di truyền và ngoại cảnh ảnh hưởng đến chất lượng hạt, độ chín của trái sẽ ảnh hưởng đến hàm lượng chất béo. Trái chưa chín hàm lượng chất béo thấp vì 50% chất béo được tổng hợp trong 6 tuần lễ cuối cùng.

Chất lượng hạt còn liên quan đến độ đồng đều của hạt trong một lô hàng. Thành phần vật lạ, tỉ lệ hạt lép, côn trùng sống và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật làm giảm chất lượng của lô hạt. Tiêu chuẩn về chất lượng hạt được quy định theo từng quốc gia hoặc từng hợp đồng mua bán cụ thể.

Để sản xuất được sô cô la có chất lượng cao, các nhà chế biến đều mong muốn có được hạt ca cao với các đặc tính chính như sau:

– Hạt có mùi sô cô la đặc trưng sau khi chế biến.

– Hạt không có mùi, vị lạ như mùi mốc, khói và không có vị quá chua và đắng.

– Hạt có trọng lượng lớn, độ đồng đều cao, tối thiểu 1g/hạt.

– Hạt được lên men đầy đủ, được phơi nắng để có ẩm độ 7,5 – 8%.

– Hạt không có dư lượng thuốc trừ sâu, vi khuẩn, côn trùng và tạp chất.

– Hàm lượng acid béo tự do <1%.

– Hàm lượng bơ từ 50 – 58%, bơ có độ cứng cao.

– Hàm lượng vỏ 11 – 12%.