Giá cà phê ngày 03/10/2019

Phiên giao dịch thứ 3 giảm liên tiếp nhưng lượng giảm không nhiều với tổng cộng là -17 usd/T11 và -19 usd/T1. Sản lượng xuất khẩu của 2 nước sản xuất cà phê lớn nhất thế giới giảm trong tháng 9. Ngoài ra, yếu tố thời tiết vẫn bất lợi, mưa vẫn ít hơn mọi […]

Phiên giao dịch thứ 3 giảm liên tiếp nhưng lượng giảm không nhiều với tổng cộng là -17 usd/T11 và -19 usd/T1. Sản lượng xuất khẩu của 2 nước sản xuất cà phê lớn nhất thế giới giảm trong tháng 9. Ngoài ra, yếu tố thời tiết vẫn bất lợi, mưa vẫn ít hơn mọi năm ở vùng trồng cà phê Minas – Brazil, hay Tây Nguyên – Việt Nam. Dự đoán xuất khẩu cà phê trong tháng 10, 11 của Việt Nam còn giảm nữa tuy rằng đây là thời điểm thu hoạch. Giá cà phê ngày 03/10/2019 tham chiếu giảm nhẹ -200đ/kg.

 

Giá cà phê ngày 03/10/2019

Robusta: 

Giá kỳ hạn trên sàn London:

    • Kỳ hạn tháng 11/2019: 1.304 usd/tấn, -7 usd.
    • Kỳ hạn tháng 01/2020: 1.322 usd/tấn, -8 usd.
  • Giá tham khảo trong nước:
    • Giá mua nông hộ từ: 33.000 đ/kg
    • Giá mua doanh nghiệp địa phương từ: 33.200 đ/kg
    • USD/VNĐ: 23.150

 

Điểm tin thị trường

Việt Nam xuất khẩu vụ 2018/2019 gần 1,74 triệu tấn, hay gần 29 triệu bao. Mặc dù vậy, hàng tồn để chuyển qua vụ mới không nhiều nên có thể có một cuộc khủng hoảng về sản lượng và nó tác động mạnh đến giá Robusta. Trong khi đó, Brazil đã thu hoạch và theo số liệu xuất khẩu 2 tháng mùa mới cho thấy sản lượng vụ mới cũng không nhiều. Giá cà phê có xu hướng tích cực hơn là tiêu cực, ít nhất theo quy luật cung cầu.

Yếu tố tích cực khiến giá tăng:

  1. Lượng mưa trong tháng 9 ít hơn so với trung bình năm từ 10-25%, tùy nơi trồng cà phê ở Việt Nam. Ít nước, quả tăng quá trình tích lũy chất khô và tốc độ chín nhanh hơn.
  2. Bộ Công Thương Brazil, xuất khẩu cà phê trong tháng 9 khoảng 2,693 triệu bao, giảm -10% so với cùng kỳ. Sản lượng xuất khẩu tích lũy trong 3 tháng đầu năm vụ 2019/20 khoảng 8,993 triệu bao.
  3. Xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong tháng 9 khoảng 100.000 tấn, giảm khoảng -23 % cùng kỳ. Sản lượng xuất khẩu tích lũy 9 tháng năm 2019, khoảng gần 1,3 triệu tấn, giảm khoảng -12,0%.
  4. Minas Gerais, vùng sản xuất cà phê lớn nhất của Brazil, chỉ nhận được 50% lượng mưa trong tháng vừa qua.
  5. Conab, cắt giảm sản lượng Brazil năm 2019 còn 49 triệu bao, so với dự báo trước là 50,9 triệu bao.
  6. Tiêu thụ nội địa của Indonesia trong năm nay có thể tăng +36%, tức 5,3 triệu bao, bằng một nửa sản lượng của nước này là 11,5-12 triệu bao.
  7. Rabobank: Vụ 2019/20, thế giới thiếu -5,5 triệu bao cà Arabica. Họ điều chỉnh nhu cầu cà phê thiếu hụt -4,1 triệu bao, so với dự báo hồi tháng 5 là -1,8 triệu bao.
  8. Marex, sản lượng toàn cầu vụ 2019/20 là 165,5 triệu bao (giảm -4,2%) và tiêu thụ là 168,9 (tăng +2,2%). Vì vậy, thế giới thiếu hụt -3,4 triệu bao vụ 2019/20, so với vụ 2018/19 dư thừa +7,5 triệu bao.
  9. Sản lượng Colombia không đổi, ở mức 14,3 triệu bao. Colombia có sản lượng cà phê đứng thứ 3 trên thế giới, thứ 4 là Indonesia.

Yếu tố tiêu cực khiến giá giảm:

  1. GCA – Green Coffee Association, tồn kho của Mỹ hiện tại là 7,22 triệu bao, tăng +1,8% so với tháng trước và +8,4% so với cùng kỳ năm trước.
  2. ICO, sản lượng thế giới vụ 2018/19 (tháng 10 – 9), tăng +1,5% và tiêu thụ tăng +2%, hay sản lượng ghi nhận 167,747 triệu bao và tiêu thụ là 164,636 triệu bao. Thặng dư cà phê thế giới vụ 2018/19 là điều chỉnh lên +4,96 triệu bao, dự báo trước đây là +3,92 triệu bao.
  3. USDA, sản lượng thế giới vụ 2018/19 đạt kỷ lục gần 171,166 triệu bao, tăng +7,1% so với cùng kỳ. Sản lượng tồn cuối vụ tăng +11,6% so với cùng kỳ, hay 32,812 triệu bao, cao nhất trong 3 năm gần đây.
  4. USDA, sản lượng cà phê Việt Nam vụ tới 2019/20 tăng +0,3% so với vụ vừa qua. Với sản lượng 30,5 triệu bao và xuất khẩu có thể tăng +4.0% lên tới 28,3 triệu bao.

    Tổng hợp: Jackie Nguyễn

    0 0 vote
    Article Rating

    Bài viết khác

    1
    0
    Would love your thoughts, please comment.x
    ()
    x